Lịch công tác tháng


06.8:“Họp Hiệu trưởng tại PGD”

08.8:“Họp giao ban tại xã Tân Hòa”

23.8: “Hội nghị tổng kết năm học 2012-2013 tạiPGD”

27.8:Dự Hội thảo tiếng Anh tại PGD”

30.8:14h Đại hội PHHS”

31.8: Nộp báo cáo thống kê và công tác chuẩn bị năm học”

Tài nguyên dạy học

Danh ngôn về Thầy

"Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn." Uyliam Batơ Dit.

"Không thể trồng cây ở những nơi thiếu ánh sáng, cũng không thể nuôi dạy trẻ với chút ít nhiệt tình." Can Jung.

"Chúng ta không thể dạy bảo cho ai bất cứ điều gì, chúng ta chỉ có thể giúp họ phát hiện ra những gì còn tiềm ẩn trong họ." Galileo.

"Giáo dục như ánh thái dương phản chiếu cả đến những gian nhà cỏ thấp bé, mái tranh của con nhà nghèo." Pestalogi.

"Sự gương mẫu của người thầy giáo là tia sáng mặt trời thuận lợi nhất đối với sự phát triển tâm hồn non trẻ mà không có gì thay thế được." Usinxki.

Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác. Usinxki.

Đối với người giáo viên, cần phải có kiến thức, có hiểu biết sư phạm về quy luật xã hội, có khả năng dung lời nói để tác động đến tâm hồn học sinh. Có kỹ năng đặc sắc nhìn nhận con người và cảm thấy những rung động tinh tế nhất của trái tim con người. Xukhomlinxki.

Nếu người kỹ sư vui mừng nhìn thấy cây cầu mà mình vừa mới xây xong, người nông dân mỉm cười nhìn đồng lúa mình vừa mới trồng, thì người giáo viên vui sướng khi nhìn thấy học sinh đang trưởng thành, lớn lên. Gôlôbôlin.

Dạy tức là học hai lần." G. Guibe.

Trọng thầy mới được làm thầy. Ngạn ngữ Trung Quốc.

Một gánh sách không bằng một người thầy giỏi. Ngạn ngữ Trung Quốc.

Thầy giáo là đường tinh, học sinh là đường đã lọc. Ngạn ngữ Ba Tư.

Một ông thầy mà không dạy cho học trò được việc ham muốn học tập thì chỉ là đập búa trên sắt nguội mà thôi. Horaceman.

Đem việc làm mà dạy người thì người ta theo; chỉ đem lời nói mà dạy người thì người ta không phục. Đệ Ngũ luận.

Người cha chính là người thầy đầu tiên của đứa trẻ. T. Thore.

Phải tôn kính thầy dạy mình, bởi lẽ nếu cha mẹ cho ta sự sống thì chính các thầy giáo cho ta phương cách sống đàng hoàng tử tế." Philoxêne De Cythêrê.

Nào ai có giỏi hơn con kiến, thế mà nó chẳng cần nói một lời nào. Benjamin Franklin.

Trò sẽ không bao giờ vượt được thầy nếu coi thầy là mẫu mực, chứ không phải là người ta có thể đua tranh. V.Bê-lin-xki (Nga).

Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy." Tục ngữ Việt Nam.

Muốn sang thì bắc cầu kiều,muốn con hay chữ phải yêu kính thầy. Tục ngữ Việt Nam.

Tôi dường như không phải là thầy giáo...và những con đường dẫn đến trái tim tuổi thơ sẽ bị đóng kín đối với tôi nếu tôi chỉ là người đứng trên bục giảng. V.A. Sukhomlinxki.

Chúc mọi người sống đẹp !

Chân dung CB-GV-NV

Thống kê Website

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hân hạnh đón tiếp

    3 khách và 0 thành viên

    LỚP HỌC TRỰC TUYẾN

    SINH HỌC
    Bài tập trắc nghiệm nguyên phân
    Giảm phân - PSGT và thụ tinh
    Bài tập trắc nghiệm sinh 9
    Cấu trúc siêu xoắn của ADN
    Cơ chế nhân đôi của ADN
    Các phép lai
    Phiên mã và hoàn thiện ARN
    Tuyến Tụy và tuyến trên thận
    Giảm phân
    Thí nghiệm của Moorgan ( Di truyền liên kết )
    Quá trình nguyên phân
    Đại não
    Giảm phân
    Môi trường sống và sự vận động di chuyển
    Đặc điểm bên ngoài của lá
    Quy luật Menden
    Quy luật Menden (2)
    Quy luật Menden (3)
    VẬT LÝ
    Thí nghiệm về sự nở vì nhiệt của chất lỏng
    Đo thể tích vật rắn không thấm nước
    Sự nhiễm điện do cọ xát
    Ôn tập vật lý 9 HK II
    Bài tập trắc nghiệm lý 9
    Bài tập trắc nghiệm lý 9
    Bài tập trắc nghiệmlý 9
    Đề thi tuyển 10 Lý 9
    TOÁN
    Hình học 6:Bài 7 Thự hành đo góc trên mặt đất
    Số học 6_ Bài 1:Tập hợp . Phần tử của tập hợp
    Hình học 9_ Hình nón - Hình nón cụt.
    Đại số 9_ Ôn tập: Phương trình bậc nhất 2 ẩn
    Đại số 8_ Bài 6: Giải bài toán bằng cách lập phương trình
    Số học 6_ Bài 1:Tập hợp . Phần tử của tập hợp
    Hình học 8_ Bài 12: Hình vuông
    HÓA
    Hóa 8_ Bài 25: Sự ôxi hóa.Phản ứng hóa hợp.
    Hóa 9_ Bài 44: Rượu Etylic
    Một số hóa chất trong thực hành thí nghiệm
    ANH VĂN
    LESSON1: WHAT ARE YOU DOING?
    Lesson 5: What are you going to do tomorrow?
    Lesson 4: What did you do today John?
    Lesson 3: What did you see?
    Unit 3:A trip to the countryside_Anh 9
    Unit 3: At home_Anh 6
    Unit 4: Out past_Anh 8
    HỌC NHẠC
    Ngày đầu tiên đi học
    Hành khúc tới trường
    Tia nắng hạt mưa
    PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
    Tiết dạy sử dụng bản đồ tư duy Vật lý
    Hướng dẫn sử dụng sơ đồ tư duy - Imindmap

    Học Ca dao Việt Nam

    1. Bông Sen thì để lễ chùa, Cụ Hồ thì để tôn thờ trong tâm.

    2. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

    3. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.

    4. Cụ Hồ ở giữa lòng dân, Tuy xa, xa lắm, nhưng gần, gần ghê. Mỗi khi thư Cụ gửi về, Rộn ràng khắp chợ cùng quê đón mừng. Ai ngoài muôn dặm trùng dương, Cũng thường nhận được tình thương Cụ Hồ.

    5. Chỉ đâu mà buộc ngang trời, Tay đâu mà bịt miệng người thế gian.

    6. Tháp mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.

    7. Cười người chớ vội cười lâu, Cười người hôm trước hôm sau người cười.

    8. Cá không ăn muối cá ươn, Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

    9. Chồng em áo rách em thương, Chồng người áo gấm xông hương mặc người.

    10. Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

    11. Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang, Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu.

    12. Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương. Nhớ ai dãi nắng dầm sương, Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

    13. Ai ơi bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

    14. Bắc thang lên đến cung mây, Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời ? Cuội nghe thấy nói, Cuội cười: Bởi hay nói dối, phải ngồi gốc cây.

    15. Cụ già thong thả buông cành trúc, Hồ rộng trời in mặt nước hồng, Muôn vạn đài sen hương thơm ngát, Tuổi già vui thú với non sông.


    Sắp xếp dữ liệu

    Bảo vệ mội trường

    Ảnh ngẫu nhiên

    DSC00297.JPG DSC00296.JPG 1667294703593541.flv 1667294386926906.flv 1667293256927019.flv DSC00335.JPG DSC00329.JPG DSC00323.JPG DSC00322.JPG DSC00319.JPG DSC00316.JPG DSC00312.JPG DSC00309.JPG DSC00306.JPG DSC00302.JPG DSC00300.JPG DSC00299.JPG DSC00297.JPG DSC00291.JPG DSC00289.JPG

    Suy nghĩ của bạn

    Bản chất của quá trình dạy học được hiểu là :
    Quá trình điều khiển của giáo viên.
    Quá trình truyền thụ tri thức của giáo viên và tiếp thu tri thức của học sinh.
    Quá trình nhận thức độc đáo của học sinh.
    Quá trình hoạt động phối hợp của giáo viên và học sinh.

    Chào mừng quý vị đến với website của Trường THCS Tân Hòa.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Phong trào CTĐ- TLLĐ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Út Thêm
    Ngày gửi: 08h:40' 02-05-2012
    Dung lượng: 474.0 KB
    Số lượt tải: 17
    Số lượt thích: 0 người
    PHONG TRÀO CHỮ THẬP ĐỎ, TRĂNG LƯỠI LIỀM ĐỎ
    QUỐC TẾ, LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ VÀ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI CỦA HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM
    Nội dung bài này gồm:

    - Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.
    - Biểu tượng của Phong trào.
    - Những nguyên tắc cơ bản của Phong trào.
    - Luật Nhân đạo quốc tế.
    - Công tác đối ngoại của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
    Lịch sử hình thành.
    Ngày 24 tháng 6 năm 1859 ở Solferino, một thành phố miền Bắc Italia, một cuộc chiến khốc liệt diễn giữa lực lượng quân đội liên minh của Pháp và Italia chống lại quân Áo đã để lại gần 40.000 người chết và bị thương trên trận địa. Henry Dunant đã chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng ấy khi tình cờ đi ngang qua. Ông đã kêu gọi dân chúng địa phương giúp đỡ người bị thương bất kể họ là người của bên nào.
    Chân dung Henry Dunant
    Khi trở về Thụy Sĩ, Henry Dunant đã viết lại những điều này trong một cuốn sách có tên gọi “Ký ức về Solferino”. Cuốn sách được hoàn thành vào năm 1862 và được xuất bản bằng chính tiền túi của ông. Trong nội dung cuốn sách, Henry Dunant đưa ra 2 ý tưởng cũng là 2 lời kêu gọi nhân đạo:
    a) Thành lập tại mỗi quốc gia một Hội Cứu trợ bao gồm những người tình nguyện, những người danh tiếng, những chính khách có tên tuổi để chăm sóc những người bị thương khi có chiến tranh.
    b) Vận động cho một thỏa thuận quốc tế bảo vệ những binh lính bị thương trên chiến trường và những người chăm sóc họ.
    Sau khi cuốn sách ra đời, Henry Dunant đã gửi sách đến các vị quốc vương, các nhà lãnh đạo ở Châu Âu, các chính trị gia, sĩ quan quân đội, những nhà hảo tâm và bạn bè. Cuốn sách đã gây được một tiếng vang lớn.
    Ông Gustave Moynier, một luật sư và vào thời gian đó là Chủ tịch của Hội Cứu trợ Cộng đồng Geneve đã cảm động sâu sắc khi đọc cuốn "Ký ức về Solfferino". Ngay sau đó ông đã đề nghị Henry Dunant nên nhóm họp các thành viên của Hội để bàn bạc về đề xuất của mình. Tại cuộc họp, một Ủy ban năm người được thành lập, gồm Henry Dunant và Gustave Moynier, Tướng Guillaume Henry Dufour, Tiến sĩ Louis Appia và Tiến sĩ Theodore Maunoir. Năm người này đều là công dân Thụy Sĩ. Kỳ họp lần thứ nhất của Ủy ban vào ngày 17 tháng 2 năm 1863 đã thông qua tên gọi "Ủy ban quốc tế cứu trợ những người bị thương".
    I. PHONG TRÀO CHỮ THẬP ĐỎ, TRĂNG LƯỠI LIỀM ĐỎ QUỐC TẾ
    Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đó quốc tế được cấu thành bởi Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế, Hiệp hội Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế và các Hội Chữ thập đỏ/Trăng lưỡi liềm đỏ các quốc gia; là tổ chức lớn nhất trên thế giới hoạt động trong lĩnh vực nhân đạo. Mục tiêu cơ bản nhất của Phong trào là góp phần phòng ngừa, giảm bớt đau thương và bảo vệ nhân phẩm con người. Cơ chế điều phối của Phong trào là cuộc họp Đại hội đồng Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế và Hội nghị Hội đồng các đại diện được tổ chức 2 năm một lần và Hội nghị quốc tế Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ được tổ chức 4 năm một lần cùng với sự tham gia của chính phủ hoặc nhà nước các quốc gia tham gia các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949 và các Nghị định thư bổ sung 1977.
    Sau đây là những thông tin cơ bản về các bộ phận cấu thành của Phong trào; nguyên tắc và lề lối hoạt động của Phong trào:
    1. Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế
    Uỷ ban Chữ thập đỏ Quốc tế (tiền thân là "Uỷ ban quốc tế cứu trợ người bị thương") là một trong 3 bộ phận cấu thành của Phong trào; được thành lập năm 1863 theo ý tưởng của Hen-ry Du-năng. Năm 1864, theo sáng kiến của Uỷ ban, ngày 22/8/1864, Chính phủ Thuỵ Sỹ chính thức triệu tập hội nghị quốc tế về vấn đề nhân đạo với sự tham gia của đại diện 16 nước. Tại hội nghị này, 12 trong số 16 nước đã ký kết Công ước Giơ-ne-vơ về cải thiện hoàn cảnh cho binh sỹ bị thương trên chiến trường. Năm 1875, "Uỷ ban quốc tế cứu trợ người bị thương" được đổi tên là Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế.
    Nhiệm vụ của Uỷ ban là giúp đỡ nạn nhân chiến tranh, thăm hỏi tù binh (bao gồm cả việc tìm hiểu sự đối xử với thương binh, tù binh và những người bị giam giữ liên quan đến xung đột, có quyền đề xuất các biện pháp giải quyết), tìm kiếm người mất tích. Trong thời bình, nhiệm vụ chủ yếu của Uỷ ban là phổ biến Luật Nhân đạo quốc tế, đồng thời là cơ quan theo dõi thực hiện các nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế. Uỷ ban cũng có quyền điều phối hoạt động cứu trợ của các Hội quốc gia trong việc giúp đỡ nạn nhân trong các cuộc chiến tranh, xung đột quân sự.
    Uỷ ban có các bộ phận chuyên trách việc cứu trợ và chăm sóc y tế (phẫu thuật, phục hồi chức năng, chân tay giả, rà phá bom, mìn, tẩy uế môi trường, cung cấp nước sạch...). Uỷ ban tiếp tục tổ chức Trung tâm tìm kiếm quốc tế; đã giúp đỡ rất nhiều cho nhu cầu tình cảm của những gia đình có người thân bị bắt hoặc mất tích. Ngày nay, công việc này có sự phối hợp của các Trung tâm tìm kiếm và Văn phòng thông tin quốc gia. Tại Trung tâm ở Giơ-ne-vơ hiện có 7 triệu phiếu cá nhân đã được lập trong cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, có 100 triệu thư từ đã được chuyển giao tại Trung tâm, mỗi năm 2 triệu thư được chuyển giữa các gia đình bị ly tán. Hàng năm, Uỷ ban giúp đoàn tụ khoảng 10.000 nạn nhân các cuộc xung đột.
    Hiện nay, Uỷ ban có trụ sở chính tại Giơ-ne-vơ với hơn 2.000 nhân viên và hoạt động ở trên 80 quốc gia với trên 12.000 nhân viên.

    2. Hiệp hội Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi đỏ quốc tế (gọi tắt là Hiệp Hội)
    Sau cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, khắp Châu Âu hầu như rơi vào rối loạn xã hội. Với sự tàn phá của chiến tranh, sự thay đổi các đường biên giới, sự di cư của hàng triệu người... khắp nơi đầy rẫy người vô gia cư, đói khát và đau ốm. Lúc đó chưa phải nước nào cũng có Bộ Y tế, do vậy, một phần lớn các hoạt động cứu trợ là do Hội Chữ thập đỏ các quốc gia đảm nhiệm. Việc tổ chức cứu trợ như thế rất cần có sự phối hợp giữa các hội quốc gia.
    Năm 1919, Hen-ry Da-vit-son, một trong những người lãnh đạo Hội Chữ thập đỏ Mỹ, đề xuất thành lập một tổ chức quốc tế bao gồm Hội Chữ thập đỏ các quốc gia kiểu như Hội Quốc liên với mục đích ‘...tổ chức một cuộc Thập tự chinh thường xuyên trên toàn Thế giới để tăng cường sức khỏe, dự phòng bệnh tật và giảm bớt khổ đau". Sáng kiến của Da-vit-son lập tức được hưởng ứng rộng rãi và năm 1919, “Liên đoàn các Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế” ra đời, với trụ sở đặt tại Paris. Năm 1939, trụ sở của Liên đoàn được chuyển sang Giơ-ne-vơ. Năm 1991, Liên đoàn đổi tên là “Hiệp Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế”.
    Hiệp hội là một tổ chức quốc tế bao gồm các Hội quốc gia thành viên; Ban lãnh đạo Hiệp hội do các Hội quốc gia lựa chọn và bầu ra, là cơ quan điều phối các hoạt động trợ giúp nhân đạo, có tư cách đại diện các Hội quốc gia tại các hội nghị hay các cơ cấu quốc tế.
    Nhiệm vụ của Hiệp hội là thúc đẩy thành lập và phát triển các Hội quốc gia; tiến hành các hoạt động phòng ngừa và ứng phó với thảm hoạ, thiên tai; tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khoẻ dựa vào cộng đồng (bao gồm cả hoạt động hiến máu, sơ cấp cứu ban đầu, phòng chống HIV/AIDS, cúm gia cầm, đại dịch cúm ở người...); tham gia các hoạt động phát triển cộng đồng và công tác xã hội (bao gồm cả các hoạt động giáo dục vệ sinh, cung cấp nươc sạch, giúp đỡ trẻ em mồ côi, người khuyết tật nghèo và người già cô đơn không nơi nương tựa...); phát triển lực lượng thanh thiếu niên, tình nguyện viên chữ thập đỏ. Hiệp hội cũng phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế trong các hoạt động cứu trợ nhân đạo ở các khu vực có chiến tranh, xung đột quân sự và phổ biến Luật Nhân đạo quốc tế cùng các nguyên tắc cơ bản của Phong trào; phối hợp giải quyết vấn đề di cư, tỵ nạn trong chiến tranh, xung đột vũ trang.
    Từ 1994, Hiệp hội được hưởng quy chế quan sát viên thường trực tại Đại Hội đồng Liên hợp quốc. Hiệp hội hợp tác chặt chẽ với Chương trình Lương thực thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, Tổ chức Y tế thế giới, Cao Uỷ Liên hợp quốc về người tỵ nạn... Hiệp hội cũng có mối quan hệ thường xuyên với các tổ chức phi chính phủ như: Qũy cứu trợ trẻ em, OXFAM, CARE...
    Hiệp hội hiện có 186 thành viên, có trụ sở chính tại Giơ-ne-vơ, có 4 đại diện khu vực tại châu Phi, châu Mỹ, châu Á-Thái bình dương và châu Âu; một đại diện thường trú ở khu vực Trung cận Đông và Bắc Phi.
    3. Hội Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ các quốc gia (gọi tắt là các Hội quốc gia)
    Tính đến nay, tại hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới công nhận các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949 đều thành lập Hội Chữ thập đỏ hoặc Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia; 186 Hội quốc gia được công nhận là thành viên của Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.
    Nhiệm vụ các Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia hiện đã thay đổi nhiều so với hơn một thế kỷ trước. Ban đầu, các Hội quốc gia được thành lập chủ yếu để cứu trợ nạn nhân, trước hết là binh sỹ trong chiến tranh. Sau chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, các Hội quốc gia đã tham gia giúp đỡ những người mất nhà cửa, bị thương tật, có gia đình bị ly tán, những người di cư do thay đổi biên giới quốc gia. Nhiều Hội quốc gia đã tổ chức các bệnh viện, các đoàn xe cứu thương, nhà cửa cho người cơ nhỡ, vận động hiến máu, đào tạo người tình nguyện... Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, ở các nước kinh tế phát triển, nhiều Hội quốc gia đã hoạt động chống các biểu hiện tiêu cực của khủng hoảng xã hội như thất nghiệp, ma túy, tệ nạn xã hội... Tại các nước kinh tế đang phát triển hoặc mới giành được độc lập thì chăm sóc y tế thường là hoạt động chủ yếu. Bên cạnh đó, ở những nước này, các Hội quốc gia còn tham gia chống suy dinh dưỡng, vận động tiêm chủng, phòng chống thiên tai, cứu đói; hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, xung đột vũ trang, sắc tộc, thiên tai, thảm hoạ và các dịch bệnh khác.
    Muốn trở thành thành viên của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, các Hội quốc gia cần hội tụ đủ 10 điều kiện sau đây:
    1/ Được thành lập tại một nước tham gia các Công ước Giơnevơ năm 1949;
    2/ Trong nước đó chỉ có một Hội quốc gia với một ban lãnh đạo;
    3/ Được Chính phủ nước đó công nhận là một tổ chức cứu trợ tự nguyện, hỗ trợ cho chính quyền trong lĩnh vực nhân đạo;
    4/ Có điều lệ hoạt động phù hợp với 7 nguyên tắc cơ bản của Phong trào;
    5/ Sử dụng tên gọi và biểu tượng phù hợp với 7 nguyên tắc cơ bản;
    6/ Có mạng lưới tổ chức đủ đảm bảo các nhiệm vụ quy định, có chuẩn bị trong thời bình để sẵn sàng đảm bảo nhiệm vụ trong thời chiến;
    7/ Hoạt động trong phạm vi cả nước;
    8/ Kết nạp hội viên không phân biệt dân tộc, giới tính, tầng lớp xã hội, tín ngưỡng hoặc quan điểm chính trị;
    9/ Thực hiện Điều lệ của Phong trào, xây dựng tình hữu nghị và hợp tác giữa các thành viên;
    10/ Tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Phong trào và hoạt động theo tôn chỉ, mục đích của Luật Nhân đạo quốc tế.
    Tư cách thành viên chính thức của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

    Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được thành lập ngày 23 tháng 11 năm 1946, không lâu trước khi xảy ra cuộc Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong 9 năm kháng chiến trường kỳ, Hội đã tích cực tham gia vào công tác cứu chữa, chăm sóc thương binh. Dù chưa phải là một thành viên chính thức của Phong trào, Hội cũng đã tuân thủ các Công ước Giơ-ne-vơ về tù binh và có đại diện chính thức tại các cuộc trao trả tù binh trong các Chiến dịch biên giới năm 1950 và Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
    Ngày 5/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt nhà nước ta ký Công hàm gửi Chính phủ Thụy sỹ, đồng ý tham gia bốn Công ước Giơnevơ năm 1949. Với sự kiện đó, ngày 01 tháng 11 năm 1957, Uỷ ban quốc tế Chữ thập đỏ và ngày 04 tháng 11 năm 1957, Hiệp hội Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế chính thức công nhận Hội Chữ thập đỏ Việt Nam là thành viên tại Hội nghị quốc tế Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ tại Ấn Độ. Việt Nam tham gia các Công ước Giơ-ne-vơ với 7 điều khoản bảo lưu trong số 429 điều thuộc 4 Công ước (đó là điều khoản 10 trong Công ước I; điều khoản 10 trong Công ước II; các điều khoản 10, 12 và 85 trong Công ước III và điều khoản 11, 15 trong Công ước IV). Tinh thần chung của các điều khoản bảo lưu là những quyết định của các nước cầm giữ thương binh, bệnh binh hoặc tù binh về số phận của họ cần được nước có những thương binh, bệnh binh và tù binh đó chấp nhận thì mới được coi là hợp pháp.
    Đối với các Nghị định thư bổ sung, ngày 19/10/1981, thay mặt Nhà nước ta, Chủ tịch hội đồng Nhà nước Trường Chinh đã ký công hàm chính thức tham gia Nghị định thư số I.
    II. BIỂU TƯỢNG CỦA PHONG TRÀO
    Để có một dấu hiệu thể hiện tính trung lập của nhân viên và phương tiện tìm kiếm chăm sóc thương binh, tránh bị các bên tham chiến sát hại, tại Hội nghị quốc tế của Uỷ ban quốc tế cứu trợ người bị thương (tháng 10 năm 1863 tại Thuỵ Sỹ), đại biểu 16 nước tham dự Hội nghị đã quyết định lấy biểu tượng hình Chữ thập màu đỏ trên nền trắng (hình cờ Thụy Sỹ ngược màu) làm biểu tượng chung của Uỷ ban. Đến nay, chữ thập màu đỏ được quy định bao gồm 5 hình vuông bằng nhau, trong đó 4 hình vuông ở 4 phía và một hình vuông ở giữa.
    Ngày nay, Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế chính thức công nhận ba Biểu tượng có giá trị như nhau, đó là: Chữ thập đỏ trên nền trắng; Trăng lưỡi liềm đỏ trên nền trắng và Pha lê đỏ trên nền trắng (trong đó Trăng lưỡi liềm đỏ là Biểu tượng của các Hội quốc gia theo Đạo Hồi; Pha lê đỏ là Biểu tượng của Hội quốc gia Ixi-ra-en). Biểu tượng có tác dụng bảo vệ và nhận diện:
    1. Mục đích Bảo vệ
    Đây là mục đích cơ bản của Biểu tượng, khi có xung đột, các bên tham chiến không được tấn công, không được xâm phạm những nơi có Biểu tượng (Biểu tượng thường phải có kích thước lớn).
    Biểu tượng dùng để bảo vệ cho các đơn vị quân y; các đơn vị y tế của Hội quốc gia (bệnh viện, trạm cấp cứu) và phương tiện giao thông vận tải (đường bộ, đường thủy, đường không) được giao nhiệm vụ cứu thương; các cơ sở y tế dân sự (bệnh viện, trạm cấp cứu được Chính phủ và các cấp chính quyền giao nhiệm vụ cứu chữa thương binh trong chiến tranh và hoạt động nhân đạo không thu tiền); các tổ chức cứu trợ tình nguyện khác được Chính phủ cho phép hoạt động phục vụ cứu thương, họ được dùng Biểu tượng cho nhân viên hoặc thiết bị khi phục vụ trong các đơn vị y tế của lực lượng vũ trang.
    2. Mục đích Nhận diện
    Với mục đích nhận diện, Biểu tượng được sử dụng chủ yếu trong thời bình, để biết đó là một cá nhân hoặc tài sản có liên quan đến Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (Biểu tượng thường có kích thước nhỏ).
    Với mục đích này, Biểu tượng dùng cho hội viên, nhân viên của Hội quốc gia khi làm nhiệm vụ và được đeo cùng với tên đầy đủ hoặc chữ viết tắt tên Hội quốc gia; Đội viên thanh thiếu niên Chữ thập đỏ/Trăng lưỡi liềm đỏ được sử dụng Biểu tượng nhưng phải kèm theo các chữ "Thanh thiếu niên Chữ thập đỏ/Trăng lưỡi liềm đỏ"; những người đã tham gia các khóa học hoặc các kỳ thi của Hội quốc gia có thể đeo Biểu tượng với kích thước nhỏ kèm theo tên hoặc chữ viết tắt Hội quốc gia; những nhà cửa, trụ sở, tài sản được Hội quốc gia sử dụng được đánh dấu bằng Biểu tượng và kèm theo tên Hội quốc gia; các bệnh viện, trạm cấp cứu, xe cứu thương và các phương tiện vận chuyển khác do Hội quốc gia sử dụng được treo Biểu tượng cùng với tên của Hội.
    Luật Nhân đạo quốc tế quy định về hình thức, phạm vi sử dụng Biểu tượng. Các chính phủ tham gia Luật Nhân đạo quốc tế đều phải thực hiện theo quy định này.
    III. BẢY NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHONG TRÀO
    Hội nghị Chữ thập đỏ và Trăng Lưỡi liềm đỏ quốc tế lần thứ XX được tổ chức tại Viên năm 1965 với sự tham gia của đại diện các thành viên trong Phong trào và đại diện của các Chính phủ tham gia các Công ước Giơnevơ năm 1949 đã chính thức thông qua bảy nguyên tắc cơ bản sau đây:
    1. Nhân đạo
    Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ với lòng mong muốn được giúp đỡ không phân biệt những người bị thương trên chiến trường, sẽ nỗ lực với khả năng quốc gia và quốc tế của mình ngăn ngừa và giảm bớt đau thương nhân loại bất cứ nơi nào có thể. Mục đích của Phong trào là để bảo vệ tính mạng và sức khoẻ cho con người và đảm bảo tôn trọng nhân phẩm. Phong trào giúp cho sự hiểu biết lẫn nhau, sự hợp tác, hữu nghị, hoà bình bền vững giữa các dân tộc.
    2. Vô tư
    Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế không phân biệt dân tộc, giống nòi, tôn giáo, tầng lớp và quan điểm chính trị. Phong trào nỗ lực để giảm nhẹ nỗi đau của mọi cá nhân và giành ưu tiên cho những người thiệt thòi nhất.
    3. Trung lập
    Để giữ niềm tin của nhân dân, Phong trào không đứng về phe nào trong các cuộc xung đột hoặc không tham dự vào các vấn đề mâu thuẫn về chính trị, chủng tộc, tôn giáo hoặc lý tưởng.
    4. Độc lập
    Phong trào mang tính chất độc lập. Các Hội quốc gia, trong khi trợ giúp cho chính phủ của mình trong các hoạt động nhân đạo và tuân theo luật pháp của nhà nước mình, luôn luôn giữ tính tự chủ để có thể hoạt động phù hợp với những nguyên tắc của Phong trào.
    5. Tự nguyện
    Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ là tổ chức nhân đạo hoạt động tự nguyện, không vụ lợi.
    6. Thống Nhất
    Ở mỗi nước, vùng lãnh thổ chỉ có duy nhất một Hội Chữ thập đỏ hoặc Hội Trăng lưỡi liềm đỏ. Hội nhất thiết phải mở rộng đối với tất cả mọi người. Hội phải tiến hành sứ mạng nhân đạo của mình trên phạm vi toàn lãnh thổ.
    7. Toàn cầu
    Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế là tổ chức rộng rãi có phạm vi trên toàn cầu, trong đó tất cả các Hội quốc gia đều bình đẳng, chia sẻ trách nhiệm và nhiệm vụ trong việc giúp đỡ lẫn nhau.
    IV. LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ
    Luật Nhân đạo Quốc tế là một phần chủ yếu của Công pháp quốc tế, là tập hợp những quy tắc pháp lý được cộng đồng quốc tế thừa nhận nhằm giảm thiểu những đau khổ và thiệt hại cho con người trong chiến tranh; cụ thể là để bảo vệ những người không tham chiến hoặc không còn khả năng tham chiến cũng như để hạn chế việc sử dụng các phương pháp và phương tiện chiến tranh. Hệ thống văn kiện này đã và đang có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo hộ các nạn nhân trong các cuộc chiến tranh và xung đột có vũ trang xảy ra ở khắp các khu vực trên thế giới từ cuối thế kỷ XIX đến nay.
    Luật Nhân đạo Quốc tế áp dụng đối với các cuộc xung đột vũ trang có ý nghĩa như một Hiệp ước quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề nhân đạo trực tiếp nảy sinh từ các cuộc xung đột vũ trang dù có mang tính chất quốc tế hay không. Vì những lý do nhân đạo, các quy tắc của Luật Nhân đạo sẽ hạn chế quyền tự do sử dụng các phương pháp và phương tiện chiến tranh của các bên tham chiến, đồng thời bảo vệ người và tài sản bị ảnh hưởng hoặc có thể bị ảnh hưởng do cuộc xung đột.
    1. Những quy tắc chủ yếu của Luật Nhân đạo quốc tế
    - Những người nằm ngoài và những người bị loại khỏi vòng chiến đấu phải được tôn trọng về sinh mạng, được đảm bảo toàn vẹn về thân thể và tinh thần. Trong mọi trường hợp, các đối tượng trên phải được bảo hộ và đối xử nhân đạo không có bất kỳ sự phân biệt nào.
    - Nghiêm cấm việc giết hoặc làm bị thương đối phương khi họ đã quy hàng hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến đấu.
    - Người bị thương hoặc bị ốm phải được thu gom lại và chăm sóc bởi bên đối phương đang cầm giữ họ. Các nhân viên y tế, các trạm và phương tiện vận chuyển và trang thiết bị y tế phải được tôn trọng và bảo vệ. Biểu tượng Chữ thập đỏ/Trăng lưỡi liềm đỏ trên nền trắng là dấu hiệu bảo hộ những người và vật dụng trên đây phải được tôn trọng.
    - Tù binh và dân thường bị phía đối phương bắt giữ phải được tôn trọng về sinh mạng, phẩm giá, các quyền tự do và tư tưởng cá nhân, chính trị, tín ngưỡng và tập tục tôn giáo. Cấm sử dụng các hành động bạo lực hoặc trả đũa đối với họ. Họ được bảo đảm quyền liên lạc với gia đình và tiếp nhận sự cứu trợ.
    - Mỗi người đều có quyền hưởng các bảo đảm luật pháp chủ yếu. Không ai phải chịu trách nhiệm về những việc mà họ không vi phạm. Không được tra tấn về thể chất và tinh thần, dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo hoặc làm mất nhân phẩm đối với họ.
    - Các bên tham chiến và thành viên các lực lượng vũ trang phải tuân thủ việc hạn chế sử dụng các biện pháp và phương tiện chiến tranh gây ra những tác hại không cần thiết hoặc quá đau đớn.
    - Các bên tham chiến phải luôn luôn phân biệt rõ dân thường và tài sản của họ. Đại bộ phận nhân dân cũng như mỗi con người đều không thể bị coi là mục tiêu để tấn công. Chỉ được tấn công vào các mục tiêu quân sự.
    2. Nội dung chủ yếu của 4 Công ước và 3 Nghị định thư bổ sung
    Luật Nhân đạo Quốc tế, cụ thể là 4 Công ước Giơnevơ và 3 nghị định thư bổ sung là cả một quá trình xây dựng lâu dài. Khởi đầu từ Công ước Giơnevơ lần thứ nhất năm 1864, Luật đã phát triển qua nhiều thời kỳ, mà tất cả thường là sau những biến cố hết sức cần thiết phải có luật để đáp ứng các nhu cầu cao chưa từng có về cứu trợ nhân đạo cho nạn nhân của sự phát triển các loại vũ khí và các kiểu xung đột mới.
    2.1. Các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949
    Năm 1874, một Hội nghị ngoại giao đã được triệu tập tại Brúc-xen theo sáng kiến của Sa hoàng A-léc-xăng-đơ Đệ nhị. Hội nghị đã thông qua bản Tuyên ngôn quốc tế về các đạo luật và tập quán về chiến tranh. Tuy nhiên văn kiện đó không được phê chuẩn vì một số quốc gia ngần ngại chưa muốn chịu sự ràng buộc của đạo luật. Mặc dầu vậy, dự thảo Brúc-xen đã đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong việc pháp điển hóa các đạo luật về chiến tranh.
    Năm 1934, Hội nghị quốc tế Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ lần thứ 15 đã họp tại Tô-ky-ô và thông qua văn kiện "Công ước Quốc tế về những điều kiện và việc bảo hộ thường dân mang quốc tịch của quốc gia đối địch đang sinh sống trên lãnh thổ thuộc/hoặc bị chiếm đóng bởi quốc gia đối địch" do Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế dự thảo. Văn kiện cũng không nhận được sự ủng hộ tích cực, các chính phủ vẫn từ chối việc triệu tập một Hội nghị ngoại giao để quyết định thông qua. Kết quả là, dự thảo Tô-ky-ô đã không được áp dụng trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai nên đã không ngăn chặn được hậu quả tàn khốc của chiến tranh mà tất cả chúng ta đều đã biết.
    Ngày 18/8/1949, các Công ước Giơ-ne-vơ về giao tranh trên bộ, trên biển, tù binh và thường dân đã chính thức ra đời, gồm:
    - Công ước Giơ-ne-vơ I năm 1864 về Cải thiện tình trạng cho thương binh và bệnh binh thuộc lực lượng vũ trang chiến đấu.
    - Công ước Giơ-ne-vơ II năm 1899 về Cải thiện tình trạng của thương binh, bệnh binh và những người đắm tàu thuộc lực lượng vũ trang trên biển.
    - Công ước Giơ-ne-vơ III năm 1929 về Đối xử với tù binh chiến tranh.
    - Công ước Giơ-ne-vơ IV năm 1949 về Bảo vệ thường dân trong thời gian chiến tranh.
    2.2. Các Nghị định thư bổ sung
    Các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc hình thành Luật Nhân đạo quốc tế. Tuy nhiên, sau quá trình phi thực dân hóa, các quốc gia mới thành lập thấy khó có thể chấp nhận việc bị ràng buộc bởi những đạo luật mà bản thân họ không được tham gia chuẩn bị. Hơn thế nữa, những quy tắc ứng xử khi xảy ra xung đột cũng không tiến triển kể từ Công ước La-hay năm 1907. Tuy nhiên, do việc sửa đổi các Công ước Giơ-ne-vơ có thể tạo nên những thách thức cho một số sự tiến bộ đạt được năm 1949 nên đã dẫn tới quyết định thông qua hai văn kiện mới dưới hình thức Nghị định thư bổ sung cho các Công ước Giơ-ne-vơ nhằm củng cố việc bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang.
    Năm 1977, Hai nghị định thư bổ sung cho bốn Công ước Giơ-ne-vơ. Hai Nghị định thư này củng cố việc bảo hộ các nạn nhân của xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế (Nghị định thư 1) và trong xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế (Nghị định thư II). Năm 2005, nghị định thư bổ sung thứ ba đã được Hội nghị quốc tế lần thứ 29 tại Giơnevơ thông qua, đó là Nghị định thư về Bảo vệ Biểu tượng.
    3. Áp dụng Luật Nhân đạo quốc tế
    Các quốc gia tham gia các Công ước Giơ-ne-vơ có nghĩa vụ pháp lý phổ biến rộng rãi kiến thức về các Công ước và Nghị định thư. Luật Nhân đạo quốc tế được áp dụng trong hai trường hợp:
    3.1. Xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế
    Khi xảy ra xung đột vũ trang có tính chất quốc tế, bốn Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư bổ sung I sẽ được áp dụng. Luật Nhân đạo nhằm chủ yếu vào các bên tham chiến, đồng thời bảo vệ từng con người hoặc từng nhóm người nằm ngoài vòng chiến hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến, như:
    - Binh sĩ bị ốm hoặc bị thương trên chiến trường và các nhân viên y tế phục vụ trong các lực lượng vũ trang.
    - Binh sĩ bị ốm, bị thương hoặc bị đắm tàu thuộc lực lượng hải quân và các nhân viên y tế phục vụ trong ác lực lượng hải quân.
    - Tù binh chiến tranh.
    - Dân thường (người nước ngoài sống trên lãnh thổ các bên tham gia xung đột, kể cả người tỵ nạn; thường dân sống trên lãnh thổ bị chiếm đóng; thường dân bị bắt giữ hoặc bị cầm tù).
    - Các nhân viên y tế, tôn giáo hoặc phòng hộ dân sự.
    - Các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, như quy định tại điều 1 của Nghị định thư bổ sung I, được liệt vào dạng xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế.
    3.2. Xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế
    Khi xảy ra xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế sẽ áp dụng điều 3 chung của bốn Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư bổ sung II. Luật Nhân đạo nhằm vào các lực lượng vũ trang tham gia chiến đấu mà không phân biệt chính quy hay không chính quy, đồng thời bảo vệ từng con người hoặc từng nhóm người đứng ngoài vòng chiến hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến, như:
    - Thương binh hoặc bệnh binh.
    - Những người bị tước quyền tự do do hậu quả của cuộc xung đột.
    - Dân thường; các nhân viên y tế và tôn giáo.
    4. Phổ biến, giáo dục và đào tạo về Luật nhân đạo quốc tế
    Các quốc gia thành viên trong thời gian hòa bình cũng như có chiến tranh phải thực hiện các biện pháp giáo dục, đào tạo và phổ biến những quy định và các nguyên tắc của Luật Nhân đạo quốc tế. Hoạt động phổ biến, thông tin về luật nhân đạo quốc tế nhất thiết không phải đợi đến khi có chiến tranh xảy ra mới tiến hành mà ngược lại, hoạt động này cần phải được thực hiện trong thời bình như là một sự chuẩn bị cho thực hiện các quy định và nguyên tắc luật nhân đạo quốc tế được tôn trọng trong thời gian xảy ra các cuộc xung đột vũ trang.
    III. CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI TRONG HOẠT ĐỘNG NHÂN ĐẠO
    1. Nguyên tắc: Hợp tác quốc tế trong hoạt động chữ thập đỏ được thực hiện trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, phù hợp với các quy định của Pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về hoạt động Chữ thập đỏ.
    2. Nhiệm vụ
    - Thực hiện đường lối đối ngoại nhân dân của Đảng và Nhà nước.
    - Giúp cho các thành viên thuộc Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, các cá nhân, tổ chức quốc tế và bạn bè quốc tế hiểu rõ sứ mệnh và hoạt động nhân đạo của Hội, tạo sự đồng tình và ủng hộ cho sự nghiệp nhân đạo của Việt Nam, vận động ủng hộ nhân đạo quốc tế thông qua các chương trình, dự án và cứu trợ khẩn cấp.
    - Tham gia các hoạt động chung của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế và thực hiện các Nghị quyết, chiến lược của Phong trào.
    - Tham gia hoạt động cứu trợ quốc tế, ủng hộ nhân dân các nước bị thảm họa nghiêm trọng.
    3. Nội dung
    - Xây dựng và thực hiện các dự án về hoạt động Chữ thập đỏ.
    - Thực hiện nhiệm vụ quốc tế của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.
    - Trao đổi thông tin, kinh nghiệm về hoạt động Chữ thập đỏ.
    - Huấn luyện, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho cán bộ Hội Chữ thập đỏ.
    - Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về hoạt động Chữ thập đỏ.
    4. Đối tác
    - Hiệp hội Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế;
    - Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế;
    - Các Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia;
    - Các cơ quan ngoại giao các nước, các tổ chức thuộc Liên Hợp quốc, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các tổ chức nước ngoài khác.
    - Các cá nhân, đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội, nhân đạo... và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
    - Cán bộ, nhân viên là người Việt Nam làm việc tại các tổ chức quốc tế.
    - Các cá nhân, đơn vị, các công ty, doanh nghiệp nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài tại Việt Nam và ở nước ngoài.
    5. Tổ chức thực hiện
    5.1. Trung ương Hội
    - Ban chấp hành Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam mà trực tiếp là Thường trực Trung ương Hội chỉ đạo, điều hành công tác đối ngoại của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
    - Ban Đối ngoại và Phát triển là cơ quan tham mưu của Trung ương Hội về quan hệ hợp tác quốc tế của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, có nhiệm vụ:
    + Tham mưu và đề xuất với Thường trực Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam về các chủ trương hợp tác quốc tế của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam;
    + Giám sát việc tổ chức thực hiện các chủ trươngvề hợp tác quốc tế của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, các chưong trình, dự án ký với các đối tác quốc tế;
    + Hướng dẫn công tác đối ngoại trong toàn hệ thống Chữ thập đỏ;
    + Tham mưu phát triển các quan hệ đối ngoại với các đối tác trong Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế và ngoài Phong trào.
    Các Ban, đơn vị trực thuộc Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam có trách nhiệm hợp tác, phối hợp chặt chẽ với Ban Đối ngoại - Phát triển để tham mưu giúp Thường trực Trung ương Hội lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động đối ngoại của Hội.
    5.2. Các cấp Hội
    - Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ các tỉnh, thành phố chỉ đạo, điều hành công tác đối ngoại liên quan tại địa bàn, chịu trách nhiệm trước Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và cấp uỷ, chính quyền địa phương theo phân cấp quản lý.
    - Các cấp Hội hợp tác, phối hợp chặt chẽ với Ban Đối ngoại và Phát triển Trung ương Hội, thường xuyên duy trì chế độ thông tin, báo cáo các họat động đối ngoại với Trung ương Hội.
     
    Gửi ý kiến

    CẢM ƠN QUÝ THẦY CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM WEBSITE THCS BƯNG BÀNG.
    Bản quyền : Trường THCS Bưng Bàng - Tân Châu - Tây Ninh
    Địa chỉ: Ấp Suối Bà Chiêm xã Tân Hòa huyện Tân Châu tỉnh Tây Ninh
    EMAIL : c2bungbangtc@yahoo.com.vn
    TEL : 0663.739.182